IP Version 6

0
190

Bài viết cung cấp một cách khái quát các vấn đề liên quan đến IP Version 6 như điều kiện, hoàn cảnh ra đời, sự vượt trội của IPv6 so với IPv4, các giao thức hỗ trợ IPv6 ….

Giới thiệu IP Version 6
Địa chỉ IP của các máy tính trên Internet hiện nay được đánh số theo dạng phiên bản 4 (IP Version 4) gồm có 32 bit. Trên lý thuyết, không gian địa chỉ Ipv4 gồm hơn 4 tỉ địa chỉ ( Thực tế ít hơn do có một phần Ipv4 dành riêng ). Tuy nhiên với sự gia tăng đột biến về số lượng người dùng trên Internet cùng các thiết bị,
Số lượng các thiết bị di động được tích hợp cấu hình địa chỉ IP ngày càng nhiều như: Máy tính, máy in, máy điện thoại di động, PDA, Smartphone, Play Station, Xbox, iPad, Notebook… cùng các thiết bị gia đình như: Tivi, tủ lạnh, Camera…kéo theo lượng User lên đến 5 tỷ người, vượt quá lượng Ipv4 cho phép.
Chính những điều này đã làm cho không gian địa chỉ Ipv4 ngày càng bị thu hẹp và cạn kiệt. Thêm vào đó, trên IPv4 vẫn còn tồn tại những điểm yếu:
  • Quá nhiều nội dung định tuyến trên mạng Global Backbone.
  • Vấn đề Broadcast gây nguy hại cho hệ thống mạng.
  • Nguy cơ tiềm tàng về bảo mật do chưa có cơ cấu đảm bảo dữ liệu trên tầng 3.
image002
Địa chỉ IP Version 6 ra đời nhằm khắc phục những điểm yếu của IPv4. Điểm vượt trội của IPv6 được thể hiện ở những nội dung sau:
image003
Cung cấp không gian địa chỉ lớn hơn rất nhiều so với IPv4.
  • Địa chỉ IPv6 mở rộng lên tới 128 bit, cho phép sử dụng được 3.1038 địa chỉ, trung bình một người trên thế giới có thể có 5.1028 địa chỉ IPv4. Với số lượng này, mọi quá trình truyền thông trên IPv6 đều không cần đến thiết bị NAT như IPv4.
image004
  • Quá trình tổng hợp địa chỉ rất dễ dàng, do đó ta có thể giảm thiểu dung lượng bảng định tuyến trên mạng Global Backbone, giúp cho việc định tuyến – chuyển mạch diễn ra nhanh hơn.
image007
  • Nếu địa chỉ IPv4 khi sử dụng bạn phải tự cấu hình ( Hoặc dựng DHCP Server để cấp động ) thì IPv6 có thể tự động đặt địa chỉ IPv6 cho một interface ( Không cần thông qua DHCP Server ) dựa trên cơ chế EUI-64.
Header đơn giản hơn IPv4 rất nhiều.
  • Header của IPv6 sử dụng ít trường hơn IPv4, lược bỏ những trường không cần thiết, thêm vào một số trường khác nhằm tăng hiệu suất hoạt động và khả năng chuyển tiếp của các thiết bị. Đồng thời, trên IPv6 mất hoàn toàn khái niệm “Broadcast” – Một ấn đề nan giải của IPv4.
  • Để có thể phục vụ tốt hơn cho các vấn đề về chất lượng dịch vụ, Header của IPv6 đã thêm vào các trường Flow Label và Next Header.
Linh động và bảo mật.
  • So với IPv4 ban đầu ra đời không được tích hợp bất cứ một phương thức bảo mật nào thì IP Security – Một giao thức bảo mật mạng ở tầng 3 trong mô hình OSI – lại là giao thức bắt buộc khi dùng IPv6. IP Security hỗ trợ hầu hết các tính năng bảo mật bao gồm tính sẵn sàng, tính xác thực và toàn vẹn, tính bảo mật dữ liệu..
  • Cho phép chuyển đổi mạng IPv6 sang IPv4 ( và ngược lại ) rất dễ dàng.
  • Nắm bắt được xu thế và nhu cầu Internet thế giới, vì hệ thống địa chỉ IPv4 đang có mặt hầu như khắp nơi trên mạng Global, muốn chuyển sang sử dụng IPv6 là một việc không phải một sớm một chiều và rất khó khăn. Do đó, IPv6 cung cấp rất nhiều cơ chế linh hoạt để tích hợp được với hạ tầng mạng IPv4 hiện hành ( Các thiết bị vừa sử dụng IPv4 vừa sử dụng IPv6 cùng lúc ), cũng có thể chuyển gói tin IPv6 di chuyển trong một mạng IPv4 thông qua các cơ chế Tunneling.

Với tất cả những ưu điểm này, IPv6 đang và sẽ được triển khai rộng rãi trên toàn thế giới trong bối cảnh IPv4 đã chính thức cạn kiệt.

LEAVE A REPLY